NHỮNG THÁCH THỨC CHO PHÁT TRIỂN THỦY LỢI ĐBSCL
Văn Hữu Huệ
1. Dòng chảy kiệt sông Mê Kông và xâm nhập mặn:
Hiện nay, vào mùa kiệt, để phát triển kinh tế-xã hội, ĐBSCL cần đến một lượng nước trung bình khoảng 600-650 m3/s, trong đó tháng 2 khoảng 770 m3/s. Lưu lượng trung bình tại Tân Châu-Châu Đốc vào mùa kiệt từ tháng 2-5 biến đổi trong khoảng 2.400-5.000 m3/s, với giá trị thấp nhất rơi vào tháng 4. Trong những năm kiệt (dưới tần suất 75%), lưu lượng tháng này chỉ còn dưới 2.200 m3/s. Đến 2010, lượng nước lấy vào tháng 2 khoảng 1.015 m3/s và tháng 4 là 846 m3/s. Việc bố trí sản xuất, đặc biệt là cây lúa, cần hạn chế lấy nước vào mùa kiệt, tránh sự gia tăng xâm nhập mặn.
Xâm nhập mặn là một hiện tượng phức tạp ở vùng cửa sông ảnh hưởng triều. Trong phát triển nông nghiệp, bài toán xâm nhập mặn và khai thác nước mùa kiệt được xem là một trong hai bài toán cơ bản nhất. Để cải thiện và tiến đến kiểm soát xâm nhập mặn hiệu quả, cần có một chiến lược chung trong sử dụng và bảo vệ nguồn nước ở tất cả các nước hạ lưu vực sông Mê Công như Chương trình Quy hoạch phát triển lưu vực (BDP), Chương trình Sử dụng nước (WUP), Chương trình Môi trường (EP) và Chương trình Quản lý và Giảm nhẹ lũ đang thực hiện. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải chủ động tìm lối ra cho bài toán kiểm soát mặn và sử dụng nguồn tài nguyên này ngay tại đồng bằng, trước hết là các vùng dễ bị mặn xâm nhập cao. Theo quy hoạch lưu vực châu thổ sông MêKông, các nước thượng lưu sẽ gia tăng lấy nước cho khoảng 3,2 triệu ha, ngoài ra còn tiến hành xây dựng các trạm thủy điện trên dòng nhánh và dòng chính.
Đứng trước nguy cơ về thiếu nước ngọt trong tương lai trên một dòng sông quốc tế mà ta ở hạ lưu, vấn đề cấp nước ngọt đã, đang và sẽ được xem là yếu tố mang tính chiến lược nhất, quan trọng nhất, gần như không có giới hạn của sự ổn định. Vì vậy, để kết hợp với các giải pháp lâu dài, trước mắt chúng ta cần:
- Hoàn chỉnh hệ thống đê bao ngăn mặn ven biển và dọc sông phục vụ tốt cho cả phát triển nông nghiệp, dân sinh và thuỷ sản;
- Xây dựng các cống ngăn mặn, đối với vùng sản xuất nông nghiệp là để tạo thêm diện tích được ngọt hoá và tăng cường khả năng lợi dụng nước mưa; đối với vùng chuyển đổi là tăng khả năng trữ ngọt, lấy mặn và tạo điều kiện thuận lợi trong luân chuyển nước để sản xuất thuỷ sản an toàn;
- Bố trí thời vụ hợp lý để giảm lượng nước tưới trong mùa kiệt, nâng cao hiệu quả của nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm trong mùa khô;
- Đẩy nhanh xây dựng các công trình kiểm soát lũ để tạo điều kiện cho chuyển dịch thời vụ, phát triển thuỷ sản; và
- Có các biện pháp thích hợp khi gặp năm mặn lên cao, tránh những rủi ro cho dân sinh, sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản.
2.Kiểm soát lũ và tác động đối với dòng chảy kiệt
Kiểm soát lũ được xem là hướng đi tất yếu để phát triển ổn định trong vùng ngập lũ. Tuy nhiên, qua thực tế, một số vấn đề cần được nghiên cứu kỹ hơn trong kiểm soát lũ như sau:
- Tần suất kiểm soát lũ cho nông nghiệp, khu dân cư và kết cấu hạ tầng trên cơ sở xem xét tác động đến nguồn lợi và phát triển thuỷ sản;
- Giải pháp và tần suất kiểm soát lũ đầu vụ để vừa đảm bảo giảm thiệt hại cho lúa Hè-Thu, vừa lấy được nhiều phù sa, thức ăn và nguồn giống thuỷ sản đầu mùa lũ vào đồng;
- Chuyển đổi cơ cấu và thời vụ linh hoạt thích nghi ở vùng kiểm soát lũ theo thời gian, là nơi thuỷ sản phát triển ở mức cao;
- Tác động của công trình kiểm soát lũ đến phân bố dòng chảy kiệt (trong hệ thống sông và kênh), khả năng giữ ẩm trong đất, sự biến đổi mực nước ngầm và hậu quả của chúng đến xâm nhập mặn;
- Hiệu quả của việc bảo vệ vụ Hè-Thu và Đông-Xuân bằng hệ thống bờ bao càng cao sẽ có tác động làm suy thoái đến môi trường sinh thái và giảm năng suất nông nghiệp, gia tăng sử dụng phân bón, cũng như gây cản trở dòng chảy lũ chính vụ.
- Mức độ tác động của kiểm soát lũ đến quá trình biến hình lòng sông đang diễn ra rất phức tạp và không kém phần gay gắt trong 10-15 năm qua, đặc biệt trên sông Tiền, sông Hậu;
- Tác động đến các hệ sinh thái vùng ngập lũ, nhất là giống và loài thuỷ sản, cũng như vùng đất ướt nhậy cảm.
3.Biến đổi khí hậu: quá trình thay đổi khí hậu sẽ gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường sinh thái như tăng mật độ của các cơn bão, lũ lụt, hạn hán, mực nước biển dâng, các dịch bệnh và làm mất đi đa dạng hoá sinh học. Mực nước biển dâng sẽ đe doạ trực tiếp đến các quốc gia có dân số cao và kinh tế tập trung ở vùng ven biển. Ở Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,7OC, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm. Theo kết quả nghiên cứu kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam đã được xây dựng cho 3 yếu tố chính là nhiệt độ, lượng mưa, độ cao mực nước biển với các mốc thời gian chủ yếu là 2010, 2050 và 2070, cụ thể:
- Về nhiệt độ trên khu vực ĐBSCL, các kịch bản về nhiệt độ trung bình năm tăng tương đối nhất quán theo các mốc thời gian 2010, 2050, 2070 lần lượt là 0,3; 1,1 và 1,50C;
- Về lượng mưa, lượng mưa mùa mưa ở khu vực tăng 0 – 5% vào năm 2050 và 2070;
- Bão trên Biển Đông có xu thế giảm trong 4 thập kỷ qua. Vào những năm gần đây, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía Nam và mùa bão kết thúc muộn hơn;
- Về mực nước biển, trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam, mực nước biển sẽ tăng 09 cm vào năm 2010, 33 cm vào năm 2050 và 45cm vào năm 2070. Theo đánh giá gần đây của Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam sẽ là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Vùng ảnh hưởng nhiều nhất sẽ tập trung ở ĐBSCL và đồng bằng sông Hồng nơi có địa hình thấp so với mặt nước biển nên dễ bị tổn thương do nước biển dâng, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết bất thường như dông, bão, áp thấp nhiệt đới v.v… Nếu mực nước biển dâng 1m sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất GDP khoảng 10%, nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất đối với GDP lên đến 25%, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ ngập hàng năm, trong đó 80% diện tích thuộc ĐBSCL sẽ ngập hầu như hoàn toàn.
4. Hạn chế trong sử dụng đất và nước:
- Tài nguyên nước phong phú, nhưng chủ yếu tập trung vào 6 tháng mùa mưa, bên cạnh đó còn bị ảnh hưởng của lũ lụt, xâm nhập mặn, nước chua và đất phèn;
- Đất sản xuất chưa ổn định, đất hoang hóa còn chiếm diện tích đáng kể, phần lớn là đất phèn và phèn mặn, xa nguồn nước ngọt, có thể khai thác để phát triển nông-lâm-ngư nghiệp nhưng cần nguồn vốn đầu tư lớn và đồng bộ;
- Hiệu quả sử dụng đất chưa cao, chưa thực sự ổn định;
- Ở nhiều vùng, hệ số quay vòng đất và đầu tư cho thâm canh còn rất thấp, nhất là trong nuôi trồng thuỷ sản và cây trồng cạn;
- Chưa có sự phối hợp tốt giữa các ngành và các địa phương trong quá trình hoạch định chiến lược sử dụng đất;
- Khai thác tổng hợp theo không gian còn ở mức thấp nên chưa phát huy tốt tiềm năng và thế mạnh của từng vùng;
- Năng suất, chất lượng sản phẩm còn thấp, sức cạnh tranh trên thị trường chưa cao. Công nghệ chế biến và công nghệ sau thu hoạch còn nhiều hạn chế, sản phẩm chủ yếu dưới dạng thô, tiêu thụ gặp nhiều khó khăn;
- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp với các mô hình canh tác khác nhau còn hạn chế, nhất là hệ thống thuỷ lợi chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp và thủy sản;
- Biến động về sử dụng đất, do phát triển nuôi trồng thuỷ sản không theo quy hoạch, dẫn đến nhu cầu nước biến động, gây nhiều khó khăn cho công tác quy hoạch và quản lý nguồn nước.
5. Hiệu quả công trình chưa cao: Công tác quản lý, duy tu, bảo dưỡng công trình chưa được chú trọng, đặc biệt là các công trình nhỏ do huyện, xã phụ trách, nhiều công trình bị xuống cấp nhưng không được sửa chữa kịp thời do thiếu kinh phí; Công nghệ tưới còn lạc hậu, chủ yếu là tưới tràn, lãng phí nước; Hệ thống công trình chưa đáp ứng linh họat quá trình chuyển đổi sản xuất; Sự kết hợp giữa công trình thủy lợi và các mục tiêu khác chưa thật chặt chẽ; Vốn đầu tư ít lại dàn trải, công trình thiếu đồng bộ.
|