Hãy cài flash player t?i ?ây
Thứ sáu, 24/10/14 00:51:21

Kỹ thuật nuôi Vịt Siêu Trứng

(kythuatnuoitrong.com - 26/03/2012)

Nghề nuôi vịt ở ĐBSCL là nghề đã giúp nhiều hộ nông dân tăng thu nhập tiếp tục phát triển nghề này là rất cần thiết, tuy nhiên, thủy cầm là tác nhân mang mầm bệnh, trong đó con vịt có khả năng chứa rất lớn virus H5N1 không có dấu hiệu bệnh, với phương thức nuôi thả đồng truyền thống tiềm ẩn nhiều rủi ro nên việc chuyển đổi phương pháp chăn nuôi theo hướng bền vững được kiểm soát dạng công nghiệp sẽ hiệu quả hơn.

Nuôi vịt theo hướng nuôi tập trung để đảm bảo chăn nuôi phát triển bền vững và mang lại hiệu quả cao, đồng thời hạn chế tối đa dịch bệnh thì giải pháp chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học là một trong những yếu tố quan trọng và nuôi vịt khai thác trứng trong chăn nuôi tập trung là một trong những hướng đi thích hợp vì con vịt siêu trứng là một trong những vật nuôi tập trung rất tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi.

I. Chọn giống nuôi

- Vịt CV Super M: là giống cao sản, thích hợp nuôi thâm canh và bán thâm canh. Vịt 75 ngày tuổi đạt trọng lượng 2,8 - 3,2 kg. Thức ăn tiêu tốn cho 1 kg thịt vịt hơi là 1,8 – 2,0 Kg.

- Vịt siêu trứng Khakicapell: là giống vịt chuyên đẻ trứng của nước Anh. Vịt có thân hình nhỏ, lông màu nâu lợt, mỏ và chân màu xám chì. Vịt bắt đầu đẻ trứng từ 140 - 145 ngày tuổi. Trọng lượng vịt mái 1,6 - 1,8 kg/con, vịt trống 2 - 2,1kg/con. Sản lượng trứng đạt 260 - 280 quả/con/năm. Trọng lượng trứng to 65 - 75g/quả. Trứng chất lượng tốt bán rất chạy trên thị trường nội địa. Nhiều hộ dân đã trở nên thoát đói, giảm nghèo nhờ nuôi giống vịt này.

- Vịt Triết Giang: hệ số sinh sản của vịt Triết Giang rất cao 247 - 258 quả/mái/năm, vịt đẻ bền. Trọng lượng trứng trung bình đạt 61,4g. Khối lượng cơ thể vịt khi vào đẻ nhỏ, vịt mái chỉ nặng 1,08kg và vịt trống nặng 1,14 kg, điều này góp phần giảm chi phí thức ăn/10 trứng. Tiêu tốn thức ăn/10 trứng trung bình là 2,23kg thức ăn trong điều kiện nuôi tập trung, Đây là giống vịt có thân hình thon, đầu nhỏ, cổ dài, con mái trưởng thành đa số có màu cỏnh sẻ nhạt, con trống cco lông ở đầu xám hoặc xanh đen, cổ có khoang trắng, phần thân có màu nâu đỏ xen lẫn lông trắng, phần đuôi có lông màu xanh đen.

II. Kỹ thuật nuôi

1. Vị trí chuồng trại

Chuồng đạt gần ao, dưới vườn cây ăn quả. Nền chuồng cao, bằng phẳng, thoát nước, thoáng mát về mùa hè và ấm về mùa đông, nền khô ráo, hướng đông - nam, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Số lượng vịt 100 con, chuồng rộng 18 - 20m2, ngoài ra cần phải có diện tích mặt nước để vịt tắm.

2. Chọn giống vịt nuôi

Chọn vịt những con vịt nhanh nhẹn, khoẻ mạnh, không khô chân, vẹo mỏ, khèo chân, hở rốn, nặng bụng... Phân biệt đực, mái để loại bớt vịt đực.

3. Nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi

Từ 1 - 3 ngày tuổi: 30 – 32 độ C, từ ngày thứ 4 mỗi ngày giảm 1 độ C cho tới khi đạt 20 độ C. Ẩm độ thích hợp nhất cho vịt con là 60 - 70%, song ở nước ta ẩm độ trong không khí rất cao 80 - 90%, nhiều lúc lên tới 100%, ẩm độ cao, chuồng ướt, dễ gây cho vịt con cảm nhiễm bệnh rất nguy hiểm. ẩm độ không khí và mật độ vịt con/m2 tỷ lệ thuận, cho nên ẩm độ cao cần hạ thấp mật độ vịt con/m2 nền chuồng. Khi độ ẩm cao cần đảo và cho thêm chất độn khô hàng ngày để giữ cho vịt được ấm chân và sạch lông, cần trang bị quạt thông, bóng đèn để có thể điều chỉnh nhiệt độ và ẩm độ.

4. Dụng cụ cho ăn

Mẹt tre cho ăn đường kính 0,8 - 1m: 2 chiếc. Máng uống tròn loại 2 lít: 2 chiếc. Máng ăn dài 70cm, rộng 50cm, cao 2cm: 2 chiếc. Máng uống loại 8 lít: 1 chiếc, quây tròn bằng tre dài 4m, cao 0,5 - 0,6m: 2 chiếc.

5. Thức ăn

- Nhu cầu dinh dưỡng /kg thức ăn của vịt từ 1 - 56 ngày tuổi chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 - 21 ngày tuổi: Protein thô: 20 %, năng lượng trao đổi: 2.900 kcal. Giai đoạn 22 - 56 ngày tuổi: Protein thô: 17 %, năng lượng trao đổi: 2.900 kcal. Trước khi cho vịt ăn phải dọn máng, quét bỏ những thức ăn thừa, hôi, thối và mốc, cho vịt ăn làm nhiều lần trong ngày để tránh rơi vãi và ôi chua, tách những con nhỏ cho ăn riêng để vịt được đều, quá trình cho ăn cần quan sát lượng thức ăn dư thừa của lần trước để xem nên tăng giảm lượng thức ăn cho phù hợp.

- Vịt là loại thuỷ cầm cần rất nhiều nước uống. Nước uống cho vịt phải đảm bảo nước trong sạch và thường xuyên cho vịt uống cả ngày lẫn đêm, với định mức:

+ 1 - 7 ngày tuổi: 120 ml/con/ngày.

+ 8 - 14 ngày tuổi: 250 ml/con/ngày.

+ 15 - 21 ngày tuổi: 350 ml/con/ngày.

+ 22 - 56 ngày tuổi: 50ml/con/ngày.

6. Chăm sóc nuôi dưỡng

- Quan sát trạng thái đàn vịt cho phép ta đánh giá về sức khoẻ của nó:

+ Vịt con phân tán đều khắp chuồng chứng tỏ đàn vịt khoẻ mạnh, thoải mái, nhiệt độ trong chuồng đạt yêu cầu.

+ Vịt con dồn đống là do lạnh, nhiệt độ chuồng nuôi thấp.

+ Vịt con nằm há mỏ và cánh dơ lên là do nhiệt độ chuồng nuôi quá cao.

+ Vịt không chơi hoặc nằm ở khu vực nhất định là chắc chắn có gió lùa.

+ Vịt bị bết dính là do chuồng ẩm, chế độ nuôi dưỡng kém.

- Cần kiểm tra sức khoẻ đàn vịt hàng ngày:

+ Những con vịt ốm yếu cần loại ngay ra khỏi đàn.

+ Khi đàn vịt biếng ăn, biếng uống, phân thay đổi phải có biện pháp can thiệp ngay.

- Cần nuôi vịt hậu bị: Giai đoạn hậu bị là giai đoạn từ 56 ngày tuổi đến khi bắt đầu đẻ, trong suốt thời gian này vịt phát triển dưới điều kiện tự nhiên. Vịt nuôi thức ăn hạn chế, cả số lượng và chất lượng làm sao đạt trọng lượng ở mức yêu cầu giống để đảm bảo có năng suất đẻ trứng cao trong giai đoạn sinh sản. Vịt đực và mái được nuôi chung một đàn.

7. Phòng bệnh

- Cần thực hiện nghiêm túc đầy đủ luật lệ về công tác phòng trừ dịch bệnh. Phải có hàng rào bao quanh cơ sở chăn nuôi, trước cửa phòng nuôi phải có hố khử trùng bàng Formanlin hoặc vôi bột. Những người không có trách nhiệm với đàn vịt không được phép vào ra khu vực chăn nuôi. Công nhân chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật phụ trách và bác sỹ thú y trực tiếp mới được vào chuồng nuôi. Người tham quan phải được phép hướng dẫn của bác sỹ thú y, khi vào tham quan phải có ủng và mặc quần áo bảo hộ thú y. Trong chuồng nuôi phải thực hiện tất cả vào nuôi và tất cả bán ra, trong chuồng nuôi chỉ nên có 2 đàn cách nhau 2 - 5 ngày tuổi.

- Cần tiêm phòng dịch tả phải làm nghiêm túc : sau 15 ngày tuổi, sau 45 ngày tuổi nên tiêm nhắc lại, sau đó cứ 6 tháng tiêm 1 lần. Từ 2 - 3 tháng nên dùng kháng sinh đề phòng các bệnh Salmonella, tụ huyết trùng và các bệnh khác tuỳ theo thời tiết và tình trạng sức khoẻ đàn vịt.

8. Thu nhặt trứng

Trước khi vịt đẻ 2 tuần bố trí có ổ đẻ trong chuồng nuôi, chất độn ổ đẻ phải được thay thường xuyên hàng tuần, trứng thu nhặt vào buổi sáng sớm từ 6 - 7 giờ sáng. Sau khi nhặt trứng tiến hành chọn loại trứng. Trứng ấp phải được khử trùng ngay sau khi nhặt trứng bằng dung dịch khử trùng.

Link Site
SỰ KIỆN BẠN ĐỌC QUAN TÂM
Bình Minh kinh tế vườn cho thu nhập khá cao và ổn định
Dự báo tình hình sâu bệnh hại trên lúa từ ngày 04/10 – 10/10/2014 tại tỉnh Vĩnh Long
Vĩnh Long: 17 sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh được công nhận năm 2014
Trung tâm Khuyến nông Vĩnh Long triển khai dự án Khuyến nông Trung Ương “Xây dựng Cánh đồng mẫu lớn tại các vùng trồng lúa chủ yếu” năm 2014 tại xã Tân Long Hội – Mang Thít
Dự báo tình hình sâu bệnh hại trên lúa từ ngày 20-26/9/2014 tại tỉnh Vĩnh Long

TIN MỚITIN NỔI BẬTĐỌC NHIỀU


Lien he quang cao

Công báo điện tử tỉnh Vĩnh Long

Hộp thư điện tử tỉnh Vĩnh Long